|
ở Trung Quốc, trong vài chục nǎm gần đây đã có hơn 70
công trình nghiên cứu sử dụng kỹ thuật châm cứu để điểu trị hen phế
quản. Chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm của các nhà châm cứu
nước bạn để các độc giả tiện bề tham khảo thêm.
1 Vương Toàn Thụ ( 1 988) xây dựng phác đồ trên cơ sở biện chứng phân
hình với 4 thể bệnh: (1) Phế hư. huyệt chính gồm định suyễn, thái uyên,
châm bình bổ, bình tả; huyệt phụ gồm chiên trung, thiên lịch, châm tả.
Định suyễn châm xiên hướng về cột sống sâu chừng 1 thốn, thái uyên châm
thẳng sâu 5 phân, lưu kim 10 - 20 phút. Hiệu quả đạt 94,87%. (2) Thận
hư: huyệt chính gồm định suyễn, thái uyên; huyệt phụ gồm thận du, thái
khê. Hiệu quả đạt 78,57%. (3) Phong hàn: huyệt chính như (l) và (2),
huyệt phụ gồm phong trì, phong môn. Trị liệu 71 ca, đạt hiệu quả 98,65%.
(4) Phong nhiệt: huyệt chính như (l) và (2), huyệt phụ gồm đại chùy,
hợp cốc. Trị liệu 41 ca, đạt hiệu quả 97,56%.
2. Hà Thụ Hòe (1981) chọn chiên trung, nội quan, liệt khuyết, túc tam lý
và phong trì; phế hư gia thái khê, thái bạch; tỳ hư gia thái bạch, tam
âm giao; thận hư gia thái khê hoặc chiếu hải; đàm trệ gia phong long.
Tùy theo bệnh tình cụ thể hư thì bổ, thực thì tả, lưu kim 20 phút. Châm
cách nhật, 10 lần là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 1 tuần. Trị
liệu 62 ca, đạt hiệu quả 87,1%.
3. Quách Liên Hán (1990) chọn phế du, định suyễn, liệt khuyết, thiên
đột, chiên trung; thời kỳ phát tác gia họp cốc, nội quan, khúc trì; thời
kỳ hoãn giai gia phế du, túc tam lý, tam âm giao; cơn hen liên tục gia
thận du, phong long, huyết hải. Châm lưu kim 20 - 30 phút, mỗi tuần châm
1 lần, liên tục 4 - 6 lần là 1 liệu trình. Trị liệu 150 ca, đạt hiệu
quả 93,3%.
|